Thời ngày nay có mang thai hộ thì vào thời phong kiến Trung Quốc cũng có một hình thức tương tự gọi là "Điển thiếp" hay gọi là cầm vợ.

"Điển thiếp" nói nôm na chính là đem vợ cho thuê để đổi lại một số tiền của cải nhất định, hết kỳ hạn cho thuê thì lại đến chuộc vợ về. 

Quá trình này nói chính xác hơn là coi người vợ như một món cầm đồ, mang đi thế chấp để lấy tiền, nhưng chỉ khác một điểm là người này không cần phải mang tiền đến chuộc vợ vì đứa con mà người vợ đẻ ra coi như thay thế cho số tiền đó.

Ở thời đại cũ, cầm vợ chủ yếu là một hình thức để người đàn ông duy trì nòi giống, có con trai để nối dõi tông đường. Chính vì vậy có thể nói, việc mang thai hộ thời ngày nay cũng giống như hiện tượng cầm vợ thời xưa.

Khởi nguồn và sự hình thành của việc "Điển thiếp"

Ở thời kỳ Chiến Quốc đã có ghi chép về hiện tượng bán vợ. Khi đó, người vợ như một món hàng hóa giao dịch giữa chồng trước và chồng sau. Hiện tượng này được tiếp diễn mãi đến thời nhà Hán. Sự khác nhau giữa bán vợ và cầm vợ là ở số lần giao dịch. Bán vợ là giao dịch một lần, trả đúng số tiền đã giao kèo thì người vợ mãi mãi thuộc về người mua. 

Cầm vợ thì ngược lại, được giao dịch nhiều lần, bản chất người vợ là một món cầm đồ, chỉ tạm cho người khác sử dụng trong một thời hạn nhất định và giao dịch có thể thực hiện nhiều lần. Ở giai đoạn này, bán vợ được coi là thời kỳ "thai nghén" của hiện tượng cầm vợ.

Đến thời Nam Bắc triều, bắt đầu xuất hiện hiện tượng mới gọi là thế vợ. Chữ "thế" ở đây có nghĩa là thế chấp. Lúc này, người vợ được coi là một vật để thế chấp, gán nợ, khi nào có tiền mang đến trả nợ thì có thể chuộc vợ về. 

HIỆN TƯỢNG

Đến thời nhà Đường, lại xuất hiện một hiện tượng được gọi là thuê vợ. Ở đây, người vợ trở thành hàng hóa để trao đổi với tiền bạc. Người phụ nữ, thê thiếp bị đem cho thuê đều hoàn toàn mất hết sự tự do và trở thành nô lệ phục vụ hèn mọn. Thuê vợ khác cầm vợ ở chỗ việc thuê vợ không có mục đích sinh con nối dõi tông đường như cầm vợ.

Vào thời nhà Tống là giai đoạn "trưởng thành" của hiện tượng cầm vợ. "Cầm" và "Thuê" có sự khác biệt rất lớn với "Thế" ở chỗ là hai hiện tượng đầu có giới hạn về thời gian, hết kỳ hạn đã định thì người vợ có thể trở về, không bị ràng buộc bởi giao dịch trước đó nữa.

Đến thời Nguyên Minh, hiện tượng cầm vợ trở nên vô cùng thịnh hành. Thậm chí, ở một số khu vực còn có sự diễn biến phức tạp hơn là xuất hiện giao dịch mua bán thay vì "cầm đồ" và có cả hôn lễ cữ hành cho nghi thức cầm vợ.

Hiện tượng cầm vợ ở thời xưa chủ yếu xuất hiện ở tầng lớp xã hội thấp kém. Người đàn ông đem vợ đi cầm chỉ có một mục đích duy nhất là tiền, cầm cố vợ để lấy tiền mưu sinh hoặc cho hành vi nào đó. 

Người đàn ông tiếp nhận việc cầm vợ ấy, đa số là những người đã có vợ nhưng không có con trai. Ở cái thời xem trọng nối dõi tông đường thì việc sinh được con trai là một chuyện vô cùng trọng đại. Họ chấp nhận bỏ ra một phần tiền để nhận một phụ nữ đã là vợ của người khác về sinh con cho mình.

Hình thức giao dịch

Sau thời Tống, hiện tượng cầm vợ đã trở nên phổ biến và thịnh hành hơn nên hình thức giao dịch cũng dần được cải thiện. Người ta viết một bản hợp đồng cầm hôn để lập giao kèo giữa đôi bên.

HIỆN TƯỢNG

Một bản hợp đồng cầm hôn phải đầy đủ những yếu tố sau:

Thứ nhất, nguyên nhân cầm vợ. Nội dung có thể viết rõ những lí do như nhà quá nghèo không lấy được vợ hoặc đã có vợ nhưng không có con nên cần vợ khác để sinh con cho mình.

Thứ hai, giá cả cầm cố. Giá cả ở đây phải dựa trên kỳ hạn thực hiện giao dịch, nhan sắc, tình hình sinh con đẻ cái của người phụ nữ bị mang đi cầm và những yếu tố ảnh hưởng khác. Hai người đàn ông, một người nhận tiền và một người nhận con.

Phận đẻ thuê thời cổ đại: Nỗi khổ nhục kêu trời không thấu của những phụ nữ xưa, bị xem như một món hàng trao đổi không hơn không kém - Ảnh 5.

Thứ ba, con cái được sinh ra trong thời gian cầm cố đều thuộc về người đàn ông đã chi tiền giao dịch. Đứa con này sẽ được thừa nhận thành con cháu của dòng họ người đàn ông đó để nối dõi tông đường. Theo đó, đứa nhỏ sẽ không còn bất cứ liên can gì đến người mẹ khi hợp đồng kết thúc.

Người phụ nữ thời xưa như một món hàng được trao đổi bằng tiền. Họ bắt buộc phải sinh con và từ bỏ đứa con mà mình đã mang nặng đẻ đau. Trên đời chẳng có người mẹ nào lại không thương con, nhưng vì ràng buộc của hợp đồng nên họ đành phải ra đi và trở về gia đình cũ. Thời bấy giờ, những người phụ nữ bị coi như một cái máy đẻ không hơn không kém.

Trước những hệ lụy mà những hủ tục "Bán vợ", "Thế vợ", "Thuê vợ", "Cầm vợ" đã gây ra, chính quyền ở mỗi triều đại luôn ban hành những chính sách cấm khác nhau nhưng không hoàn toàn triệt để. 

Phận đẻ thuê thời cổ đại: Nỗi khổ nhục kêu trời không thấu của những phụ nữ xưa, bị xem như một món hàng trao đổi không hơn không kém - Ảnh 6.

Sự ảnh hưởng của chế độ phong kiến quá nặng nề khiến cho địa vị người phụ nữ bị hạ thấp đến mức cùng cực và những hủ tục trên vẫn được tiếp diễn trong suốt thời kỳ xưa.

Hiện nay, mặc dù những hủ tục trên đã bị bài trừ, nhưng đâu đó trên thế giới vẫn còn cảnh người phụ nữ không được xem trọng và vẫn hiển nhiên trở thành công cụ sinh đẻ của người đàn ông. 

Hy vọng con người luôn nhận thức được giá trị của bản thân để đấu tranh cho chính mình và cho cả những người yếu kém hơn. Có như thế, xã hội mới đạt được sự công bằng thật sự.

(Nguồn: 163)

Hà Nội
85%
25°C
Trung Bình
79 US AQI
Trung Bình Ở mức chấp nhận được. Nhóm nhạy cảm nên hạn chế thời gian ra ngoài
Ho Chi Minh City
94%
26°C
Trung Bình
78 US AQI
Trung Bình Ở mức chấp nhận được. Nhóm nhạy cảm nên hạn chế thời gian ra ngoài

Cập nhật lúc 09:50:03 26/09/2021(Theo AirVisual)

Ghi chú: Nhóm nhạy cảm bao gồm trẻ em, người già và những người mắc bệnh hô hấp.

Phan / Pháp luật & Bạn đọc

Nguồn: https://phapluat.suckhoedoisong.vn/mang-thai-ho-thoi-phong-kien-trung-quoc-noi-kho-thau-troi-cua-phu-nu-bi-xem-nhu-may-de-la-hang-hoa-trao-doi-khong-hon-khong-kem-16221140921455452.htm